Sách tài nguyên TN & MT Việt Nam

CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ SINH SẢN TRÊN BÒ

Tác giả: Hoàng Nghĩa Sơn (Chủ biên),Nguyễn Văn Hạnh
Tình trạng: Còn hàng
Số trang: 324
Năm xuất bản: 2019
Kích thước: 16x24
Hình thức: Bìa cứng
Giá bìa: 175,000 VNĐ
Mua ấn phẩm

Giới thiệu

MỞ ĐẦU

Chủ trương chính sách của Nhà nước Việt Nam về phát triển đàn bò sữa đến năm 2020 đạt 500 nghìn con, hầu hết là bò sữa cao sản. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2016 tổng số lượng bò sữa trên cả nước có khoảng gần 300.000 con. Giống bò sữa hiện đang nuôi ở Việt Nam trên 80 % là bò lai Holstein-Frisian (HF) có tỷ lệ máu HF từ 50-97,5 %, năng suất sữa năm 2009 trung bình từ 4.000-4.500 lít/chu kỳ cho sữa, trong đó chỉ khoảng 15 % là bò thuần HF với sản lượng sữa trung bình 5.500-6.000 lít/chu kỳ cho sữa. Đàn bò sữa Hà Lan thuần chủng nhập vào Việt Nam chủ yếu tập trung ở cao nguyên Mộc Châu (Sơn La) và Đức Trọng (Lâm Đồng) là 2 địa phương có ngành chăn nuôi bò sữa thích hợp và hiệu quả hơn cả. Đáp ứng nhu cầu sử dụng sữa ngày càng tăng của người dân, thời gian qua Chính phủ đã giành những ưu tiên đáng kể để đầu tư cho các dự án nhập tinh và giống bò sữa cao sản làm nguồn lai tạo đàn bò sữa nước ta.

Đối với lĩnh vực chăn nuôi bò thịt, tình hình cũng không khả quan hơn. Cùng với nhịp độ phát triển kinh tế đang tiếp tục tăng trưởng, mức sống người dân không ngừng được cải thiện và nhu cầu tiêu thụ thịt bò tại Việt Nam ngày càng lớn. Thời gian qua chúng ta đã có nhiều thành công trong công tác lai tạo và nhân giống, nhưng nhìn chung chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu tiêu thụ thịt bò tại thị trường nội địa, về cả phương diện chất lượng cũng như số lượng. Hầu hết các nhà hàng, khách sạn và siêu thị cao cấp vẫn phải nhập thịt bò từ Mỹ, Australia, New Zealand. Hiện nay, mức tiêu thụ thịt bò trung bình trên đầu người ở nước ta chưa đến 1,5 kg/năm, rất thấp so với mức tiêu thụ 9-10 kg/năm tại các nước trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản. Để phát triển chăn nuôi bò thịt thành một ngành sản xuất hàng hoá, dự án Cải tiến và nâng cao chất lượng giống bò thịt Việt Nam, Chính phủ đã đặt mục tiêu tăng cường cơ cấu giống bò lai, bò thịt chất lượng cao nhằm đạt 12 triệu con với tổng sản lượng thịt bò 650 ngàn tấn vào năm 2020. Để đạt được mục tiêu trên trong hoàn cảnh ngành chăn nuôi bò còn mang tính chăn nuôi sản xuất nhỏ, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cho người dân là yếu tố then chốt và cần thiết.

Ở bò số lượng nang có tế bào trứng có thể phát triển thành trứng thành thục có khả năng tạo phôi ở giai đoạn thành thục sinh sản là khoảng 68.000-70.000 cái. Trong sinh sản tự nhiên, số trứng thành thục thường là một trứng cho mỗi chu kỳ 21 ngày, nếu trứng được thụ tinh và tạo phôi dẫn đến mang thai thì con số trứng được sử dụng là rất hạn chế so với tiềm năng của buồng trứng. Ước tính một bò cái chỉ sử dụng từ 10- 15 trứng trong suốt một đời sinh sản, tức là chưa tới 0,01 % tiềm năng nang trứng có trong buồng trứng. Để nâng cao khả năng khai thác tiềm năng di truyền của những cá thể có năng suất sữa cao, công nghệ phôi là sự lựa chọn tối ưu cho mục đích này. Ưu điểm của cấy truyền phôi là nhanh chóng nâng cao cường độ chọn lọc, đẩy mạnh công tác giống trên cơ sở tăng nhanh tiến độ di truyền hàng năm, thông qua việc cấy truyền các phôi cao sản vào đàn bò nhận có năng suất thấp.

Hàng loạt các công nghệ sản xuất phôi bò đã được nghiên cứu như: tạo phôi bò bằng gây siêu bài noãn, tạo phôi bò bằng thụ tinh in vitro, tạo phôi bò bằng cắt đôi phôi, tách phôi và gần đây là cấy nhân tế bào phôi, cấy nhân tế bào sinh dưỡng. Hai công nghệ tạo phôi áp dụng phổ biến để cải tạo đàn bò sữa, bò thịt là: gây siêu bài noãn - tạo phôi in vivo và thụ tinh ống nghiệm – tạo phôi in vitro. Mỗi công nghệ đều có những ưu và nhược điểm riêng, đối với gây siêu bài noãn và cấy phôi dễ dàng áp dụng để nhân nhanh đàn bò cao sản với chi phí ban đầu thấp. Sản xuất phôi bò cao sản kiểu này có thể tiến hành ở quy mô một hoặc vài bò cao sản cũng như áp dụng cho một hoặc nhiều đàn bò. Phôi sản xuất bằng gây siêu bài noãn có sức sống cao: cấy tươi cho bò động dục đồng pha cho tỷ lệ đậu thai gần như thụ tinh nhân tạo (70 %), cấy phôi đông lạnh cho bò động dục tự nhiên, bò chủ động gây động dục cũng đạt tỷ lệ đậu thai tốt (≥ 50 %). Trong khi đó, sản xuất phôi bằng thụ tinh in vitro, tạo ra nhiều phôi hơn từ một bò cái cao sản. Công nghệ này có mức đầu tư ban đầu cao hơn, phải được tiến hành nhiều khâu trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, do ít bị ảnh hưởng hơn của các yếu tố ngoại cảnh, sản xuất được nhiều phôi hơn, thụ tinh in vitro đang dần được cải tiến để nâng cao sức sống của phôi và chắc chắn là một công nghệ đột phá tạo ra năng suất và chất lượng cho đàn bò.

Công nghệ phôi còn tạo ra một lợi thế quan trọng cho việc xuất/nhập khẩu bò giống. Khác với nhập tinh, phôi bò cho 100 % kiểu gen cần thiết cho mục đích sản xuất. Thay vì nhập khẩu một đàn bò, nhập phôi bò với số lượng cần thiết rồi tiến hành cấy phôi cho đàn bò địa phương, đàn bò địa phương với vai trò mang thai hộ. Các quy trình chăn nuôi ít bị thay đổi, người nuôi có đủ thời gian để thích nghi với giống bò mới, tiết kiệm được tiền bạc. Nhập khẩu bò nguyên con, phải mất hàng tháng thậm chí hàng năm cách ly bò nhập với quần thể bò nội địa, do yêu cầu tránh lây bệnh và phòng dịch. Ngoài ra, chuyên chở một đàn bò bằng phương tiện chuyên dụng, phí hải quan, tỷ lệ bò chết trong quá trình vận chuyển, chi phí nuôi cách ly đã nâng giá thành của đàn bò nhập lên cao. Nhập phôi bò sẽ giảm được tất cả các bất lợi kể trên lại có đủ thời gian cho phôi thích nghi từ ngay trong bụng bò nhận với các điều kiện mới: khí hậu, dinh dưỡng, chăm sóc,...

Từ những năm 70 của thế kỷ XX, các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã được triển khai ứng dụng ở Việt Nam, với những thành công trên nhiều đối tượng vật nuôi. Trong công nghệ sinh sản hiện đại, các kỹ thuật được triển khai đồng bộ nhằm đem lại năng suất chăn nuôi cao nhất của đối tượng chăn nuôi. Trước đây, đã có một số ấn phẩm liên quan đến lĩnh vực công nghệ hỗ trợ sinh sản trên bò, tuy nhiên những ấn phẩm này chưa đề cập một cách tổng thể các công nghệ trong hỗ trợ sinh sản từ thu, xử lý tinh, tạo phôi, cấy phôi, xác định giới tính tinh phôi cho đến tạo phôi nhân bản, xác định có chửa sớm… Các kỹ thuật được đề cập từ cơ bản đến hiện đại, từ thực hiện ở điều kiện trang trại đến tiêu chuẩn phòng thí nghiệm hiện đại. Trong nội dung cuốn sách này, các công nghệ hỗ trợ sinh sản được trình bày một cách chi tiết, đồng bộ từ lịch sử nghiên cứu, triển khai ứng dụng đến cập nhật trình độ hiện tại về thành tựu đạt được và các vấn đề kỹ thuật liên quan. Trong quá trình biên soạn do lượng kiến thức trải rộng, sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong sự ủng hộ và góp ý của độc giả.

Các tác giả

Thứ hai, Ngày 30 tháng 3 năm 2020
02:56:39 PM